Thứ sáu, Ngày 12 Tháng 7 Năm 2024

Chính trị - Xây dựng đảng

Gửi Email In trang Lưu
CUỘC THI CHÍNH LUẬN VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNGLẦN THỨ TƯ NĂM 2024

19/06/2024 16:11

CHỦ ĐỀ

NHẬN RÕ MẶT TRÁI CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG CÀNG VỮNG TIN VÀO

 CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

-----

          Tóm tắt: Từ xa xưa, con người đã mơ ước được sống trong một xã hội tốt đẹp, không có áp bức, bóc lột, nghèo đói và bất công. Nhưng trong các xã hội có giai cấp, mơ ước ấy không thể thực hiện được. Chủ nghĩa tư bản tuy tiến bộ hơn nhiều các xã hội trước đó nhưng lại phải đối mặt với mặt trái của cơ chế thị trường, vì vậy, con người vẫn không thôi mơ ước về một xã hội tốt đẹp hơn. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã chỉ ra nguồn gốc của áp bức, bất công chính là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Muốn xóa bỏ áp bức, bất công chỉ có thể thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam từ khi đổi mới đến nay, bên cạnh những thành tựu quan trọng mang tính lịch sử, chúng ta cũng phải hứng chịu nhiều hệ lụy tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Nhưng càng thấy rõ mặt trái của cơ chế thị trường bao nhiêu, càng giúp chúng ta  vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu.  

          Từ khóa: mặt trái cơ chế thị trường, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

Xã hội loài người từ khi  sản sinh ra giai cấp, có người giàu, kẻ nghèo, có lớp người  thống trị và lớp người bị trị thì cũng nảy sinh tội ác, nghèo đói và  bất công. Những người thuộc tầng lớp khốn cùng trong xã hội luôn khát khao được sống trong một xã hội tốt đẹp hơn. Trong một xã hội quyền lực chỉ thuộc về kẻ có tiền thì mơ ước đó không thể nào thực hiện được. Không tìm thấy trong hiện thực, người ta buộc  phải đặt mơ ước của mình vào một nơi hư ảo ở thế giới bên kia như chốn thiên đàng hoặc cõi niết bàn. Tuy đó chỉ là niềm tin tôn giáo nhưng nó cũng an ủi, động viên con người vượt qua tăm tối suốt những đêm dài trung cổ.

Chủ nghĩa tư bản ra đời với động lực thúc đẩy là lợi nhuận đã phá vỡ mọi rào cản của chế độ phong kiến, tạo ra sự phát triển vượt bậc và hình thành nên một nền văn minh mới trên trái đất. Chủ nghĩa tư bản như một luồng ánh sáng xé toang màn đêm trung cổ, mang đến cho loài người cuộc sống vật chất đầy đủ hơn, văn minh hơn, dân chủ hơn. Không một ai dù thuộc giai cấp bóc lột hay bị bóc lột, dù là người giàu hay kẻ nghèo, dù là trí thức hay thất học đều dễ dàng nhận thấy  sự phát triển nhanh chóng và vĩ đại của chủ nghĩa tư bản. Và lẽ dĩ nhiên, trong xã hội phương Tây, nơi khởi nguồn của chủ nghĩa tư bản xuất hiện những trí thức, học giả ra sức dùng những lời lẽ mĩ miều, giản dị hoặc cao siêu để ngợi ca, biện minh và dẫn đường cho chủ nghĩa tư bản. Theo thời gian, những tư tưởng đó ngày càng sâu sắc và hoàn thiện, trở thành hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, là kim chỉ nam giúp chủ nghĩa tư bản tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.

          Nhưng những người lạc quan nhất cũng không mấy  khó khăn nhận thấy mặt trái của nền văn minh vật chất, sự giàu có của chủ nghĩa tư bản. Bên cạnh đông đảo các trí thức, học giả bênh vực cho chủ nghĩa tư bản, có nhiều trí thức, học giả tư sản sớm nhận thấy những khuyết tật không thể khắc phục của chủ nghĩa tư bản, ngay cả trong thời kỳ phát triển hưng thịnh nhất.

          Ngay từ những năm đầu thế kỷ XVII, trong lòng xã hội các nước tư bản Tây Âu xuất hiện những học giả tư sản với chủ nghĩa nhân văn cao cả đã nhìn ra những bất công của chủ nghĩa tư bản hiện thời. Họ cảm thấy chán ghét chế độ người bóc lột người và mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó của cải là tài sản chung, nền sản xuất được ứng dụng kỹ thuật để giải phóng người lao động, sản phẩm làm ra được phân phối bình quân theo nhu cầu của con người. Họ cũng chỉ ra khuyết tật của chủ nghĩa tư bản là sự phân hóa giàu nghèo, bóc lột tài nguyên, khủng hoảng theo chu kỳ và nguồn gốc của tất cả bất công xã hội đều xuất phát từ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Các đại diện cho tư tưởng tiến bộ này là Tômát Morơ, Tômadô Campanenla vào đầu thế kỷ XVI,  Xanh Ximông,  Phuriê, Ôoen vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

          Những học giả tư sản này đã dũng cảm lên án chế độ đương thời, quyết đoạn tuyệt với chủ nghĩa tư bản và mong muốn xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, mong muốn của họ chỉ là không tưởng, bởi không thể thực hiện được trong chế độ mà những người giàu có nắm quyền điều khiển xã hội. Có người đã dốc hết cả tài sản của mình để thực nghiệm xây dựng một xã hội tốt đẹp nhưng không thể thành công trong một xã hội do giai cấp tư sản cầm quyền.

          C.Mác và Ph.Ăng ghen với tài năng trí tuệ và lòng trắc ẩn trước nỗi khổ đau của người lao động đã tiếp tục nuôi dưỡng hoài bão kiến tạo một chế độ xã hội tốt đẹp hơn. Trực tiếp chứng kiến những bất công của xã hội tư bản đương thời và kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó, hai ông đã chỉ ra nguồn gốc của sự bất công của xã hội tư bản đó là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự giàu có của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và lực lượng có khả năng kiến tạo xã hội mới chính là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

          Mặc dù xuất thân từ giai cấp bóc lột nhưng hai ông đã dành cả cuộc đời mình xây dựng nên  một học thuyết hoàn chỉnh để luận chứng đầy đủ mục tiêu, con đường, phương thức, lực lượng nhằm xây dựng một chế độ xã hội mới. Chế độ xã hội đó không phải có sẵn ở thế giới bên kia, cũng không phải ở một hành tinh khác mà được xây dựng ngay trên mảnh đất mà giai cấp vô sản vừa giành được từ tay của giai cấp tư sản. Chế độ xã hội đó phải do chính tay giai cấp công nhân xây dựng dưới sự lãnh đạo của một đảng cộng sản chân chính được gọi là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Để bảo đảm cho người lao động được sống bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc, chế độ xã hội chủ nghĩa  phải phát triển trên cơ sở nền đại công nghiệp cơ khí, phải  thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, lao động được tổ chức có kế hoạch và kỷ luật tự giác, tự nguyện, phân phối theo lao động. Nhà nước phải đại biểu cho lợi ích quyền lực và ý chí  của nhân dân lao động, mục đích là giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, thực hiện sự bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Mô hình chế độ xã hội tốt đẹp của C.Mác, Ph.Ăngghen được những người lao động, bị bóc lột đến cùng khổ đón nhận và coi đó là con đường giải phóng khỏi áp bức, bất công. Giai cấp công nhân thế giới đã  lấy đó là vũ khí tư tưởng của mình trong cuộc đấu tranh giành chính quyền làm công cụ quyền lực để xây dựng chế độ xã hội mới. Cách mạng là con đường quanh co, phức tạp và lâu dài, hai ông đã không kịp chứng kiến lý tưởng của mình trở thành hiện thực.

          VI.Lênin đã tiếp thu và phát triển lý tưởng của C.Mác, Ph.Ăng ghen, quyết tâm thực hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở đất nước Nga. Sau khi lãnh đạo giai cấp công nhân Nga đứng lên giành được chính quyền, VI.Lênin đã thi hành các chính sách công hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện phân phối bình quân, kế hoạch hóa cao độ, giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội theo chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo, đề cao quyền sống và lao động của con người, từng bước đưa chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực.

          Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trong những năm 50, 60 của thế kỷ XX là bằng chứng mạnh mẽ, không thể phủ nhận bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Hệ thống xã hội chủ nghĩa là niềm khát khao, ngưỡng mộ và trở thành mục tiêu phấn đấu của nhân dân lao động toàn thế giới. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có nguyên nhân vội vã từ bỏ cơ chế thị trường một cách triệt để, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã sụp đổ vào những năm cuối của thế kỷ XX. Đây  là dịp vô cùng thuận lợi để giai cấp tư sản đề cao các giá trị của chủ nghĩa tư bản. Họ coi cơ chế thị trường là một phép màu, chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng, là tột đỉnh văn minh của nhân loại, đi lên chủ nghĩa tư bản là tất yếu và không có sự lựa chọn nào khác...  Họ cũng đem tất cả những khuyết điểm, sai lầm của chủ nghĩa xã hội để hạ nhục, xuyên tạc, bôi nhọ bản chất tốt đẹp của lý tưởng xã hội chủ nghĩa… Những luận điệu phản tuyên truyền quen thuộc đó càng được khuếch trương bởi công nghệ thông tin hiện đại làm cho nhiều người hoang mang, nghi ngờ, thất vọng, thậm chí từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Mác, Ăng ghen, Lênin đã sáng lập ra.

          Ở Việt Nam, chủ nghĩa tư bản ra đời không theo một trật tự lịch sử như các nước phương Tây mà chủ yếu du nhập từ bên ngoài trong các cuộc chiến tranh xâm lược của các đế quốc văn minh. Từ chế độ phong kiến lạc hậu, người Việt Nam ngỡ ngàng, choáng ngợp trước sự văn minh, giàu có mà các nhà tư bản Pháp mang đến. Không ít những sĩ phu yêu nước, thương dân mong muốn đưa đất nước thoát ra khỏi cảnh khốn cùng, đen tối của chế độ phong kiến lạc hậu bằng con đường canh tân đất nước, phát triển kinh tế, mở mang dân trí dưới sự bảo hộ của “nước mẹ” tư bản Pháp. Nhưng mong ước tốt đẹp đó đã sớm bị dập tắt bởi mục tiêu của chủ nghĩa tư bản là tìm kiếm  lợi nhuận, chứ không phải là những nhà từ thiện đi khai hóa văn minh. Cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa hoành hành tự do dưới chính quyền thực dân, phong kiến dẫn đến một thời kỳ đen tối trong lịch sử Việt Nam. Những thói hư, tật xấu của chế độ phong kiến thối nát, cùng chủ nghĩa tư bản đề cao giá trị của đồng tiền làm bần cùng hóa người lao động, băng hoại mọi giá trị đạo đức xã hội. Bối cảnh lịch sử đau thương đó được phản ảnh trong tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… Từ nỗi nhục bị áp bức, khổ đau đến cùng cực đã thôi thúc người dân Việt Nam vùng lên đòi quyền sống, đòi quyền được tự do,  ấm no, hạnh phúc ngay trên mảnh đất của mình.

          Trong những năm đầu của thế kỷ XX, lý tưởng và những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực đã soi rọi đến Việt Nam do sự nỗ lực truyền bá của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và cộng sự của Người. Sống trong vũng bùn của chế độ thực dân, phong kiến, chủ nghĩa xã hội sớm trở thành lý tưởng cao đẹp hấp dẫn, lôi cuốn hàng triệu người vùng lên làm cách mạng theo tiếng gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính nỗi khát khao được sống dưới một chế độ xã hội tốt đẹp và truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất đã quy tụ toàn dân dưới ngọn cờ chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sức mạnh của niềm tin,  lý tưởng đã biến thành sức mạnh vật chất của một dân tộc vốn giàu lòng yêu nước, dũng cảm trong đấu tranh nên đã sớm biến ước mơ thành hiện thực.

Cách mạng thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, có đủ khả năng và điều kiện để huy động toàn dân bắt tay vào kiến thiết một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn. Về lý thuyết, chủ nghĩa xã hội khác chủ nghĩa tư bản  về bản chất, đồng thời để có sức mạnh tập trung cho cuộc chiến tranh thống nhất Tổ quốc, chúng ta đã sớm thi hành chính sách công hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện cơ chế tập trung bao cấp, kế hoạch hóa cao độ để tránh phân hóa giàu nghèo và khủng hoảng kinh tế - xã hội theo chu kỳ, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế thị trường trên mảnh đất mang đầy vết thương chiến tranh hoang tàn và nghèo đói.

          Bước ra từ chiến tranh, với khí thế của người chiến thắng và mang sẵn khát vọng cháy bỏng về một chế độ xã hội tốt đẹp trong tương lai, sự vội vã đó là hoàn toàn có thể lý giải được. Nhưng chúng ta chưa lường được việc điều hành một chế độ xã hội là vô cùng phức tạp. Sản xuất ra bao nhiêu, giá cả thế nào trong bối cảnh chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý sản xuất. Thêm vào đó là sức ép chính trị từ các nước xã hội chủ nghĩa đi trước dẫn chúng ta đến ảo tưởng, sai lầm, phải trả giá đắt và đặt đất nước trước tình thế khủng hoảng nghiêm trọng. Những năm cuối của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội hiện thực lại lần lượt sụp đổ. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, chúng ta vẫn không từ bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm giữ vững mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng phải xem lại cách làm cho phù hợp, bớt ảo tưởng, duy ý chí, vì đây là quá trình lâu dài và vô cùng gian khổ, là những cơn đau đẻ kéo dài.

          Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, chúng ta đã thừa nhận phải thực hiện cơ chế thị trường làm phương tiện để đất nước giàu lên, người dân có cái ăn, cái mặc trước khi có của cải dồi dào, ai cũng được học hành, được chăm sóc sức khỏe, để có thể giải quyết công bằng xã hội, bảo vệ môi trường…Tận dụng cơ chế thị trường trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng trải qua không ít thăng trầm từ trong nhận thức đến hành động. Từ Đại hội Đảng lần thứ IX, chúng ta mới chính thức gọi  là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa  và phải đến Đại hội Đảng lần thứ XII,  chúng ta mới có một nhận thức khá đầy đủ về cơ chế thị trường, mà điểm nổi bật là thừa nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Mặc dù cơ chế thị trường ở nước ta khác với chủ nghĩa tư bản là có định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là dùng cơ chế thị trường làm phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Nhưng cơ chế thị trường dù ở giai đoạn nào, ở quốc gia nào thì  trong quá trình vận hành đều nảy sinh những hệ lụy khó tránh khỏi. Tuy nhiên, những hệ lụy mà cơ chế thị trường mang đến lại chính là cơ sở để chúng ta củng cố niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

          Hơn 30 năm nước ta thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những thành quả mang lại là vô cùng to lớn. Đất nước đã giàu lên, cơ sở vật chất ngày càng hiện đại, đời sống vật chất của nhân dân thay đổi rõ rệt. Đời sống tinh thần có nhiều khởi sắc, tính năng động, sáng tạo, tự do làm chủ bản thân, dân chủ xã hội đều có bước tiến bộ vượt bậc. Những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mới được xây dựng và dần dần hoàn thiện. Tuy nhiên, những thành tựu to lớn đó cũng không thể che lấp được những hạn chế, khuyết điểm do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại.

          Do phát triển kinh tế tư nhân, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng mạnh mẽ, các “ông chủ” thuộc thành phần kinh tế tư bản tư nhân đã chiếm lĩnh có thời hạn nhiều tư liệu sản xuất quan trọng vốn trước đây thuộc sở hữu nhà nước. Vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế không còn mạnh mẽ như trước mà buộc phải tuân thủ các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh của cơ chế thị trường. Những quy luật đó gây ra nhiều hệ lụy về kinh tế và xã hội. Vai trò làm chủ thị trường của các doanh nghiệp nhà nước chỉ còn ở một số lĩnh vực quan trọng. Những mảnh đất “vàng”, bờ biển đẹp đều rơi vào tay các nhà tư bản trong nước hoặc tư bản nước ngoài. Nhiều sản phẩm hàng hóa lâm vào tình trạng khủng hoảng thừa phải hô hào cả xã hội tham gia giải cứu và cũng không hiếm mặt hàng lâm vào khủng hoảng thiếu đẩy giá cả tăng vọt. Đặc biệt là kinh tế phát triển thiếu kiểm soát do chạy theo lợi nhuận đã hủy hoại môi trường khiến cho nạn ô nhiễm đất, không khí, biển ngày càng trầm trọng. Rừng bị tàn phá không chỉ để khai thác lâm sản mà còn để chiếm dụng tài nguyên đất, để phô bày sự giàu sang của các chủ tư bản giàu có. 

          Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo ngày càng nghiêm trọng. Là một quốc gia mới phát triển nhưng Việt Nam đã xuất hiện những người thuộc top giàu nhất thế giới, trong khi cả nước vẫn còn gần 2 triệu hộ nghèo và hơn 1,3 triệu hộ cận nghèo. Đáng lo ngại là các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống đang ngày càng mai một. Đồng tiền đã thâm nhập vào những nơi cao quý, thiêng liêng nhất, tấn công và làm gục ngã cả những cán bộ cao cấp. Thực tế đó, khiến nhiều người cảm thấy tiếc nuối những giá trị tốt đẹp trong thời bao cấp trước đây.

          Tại sao lại có tình trạng như vậy? Câu trả lời ở đây không có gì khác mà chính là mặt trái của chủ nghĩa tư bản. Bởi thực hiện cơ chế thị trường, bên cạnh mặt tích cực, chúng ta buộc phải chịu đựng những mặt tiêu cực của nó. Cách đây mấy trăm năm, người lao động ở những nước tư bản mới phát triển cũng từng chán ghét, bất bình như vậy, nhiều học giả tư sản cũng đã phải  tìm kiếm những mô hình xã hội mới tốt đẹp hơn. Mặc dù chúng ta có định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng tiềm lực kinh tế chưa đủ mạnh; cơ chế, pháp luật để giữ cơ chế thị trường trong vòng cương tỏa chưa đầy đủ nên chắc chắn còn phải tiếp tục chứng kiến mặt trái cơ chế thị trường trong một thời gian tương đối dài.

          Hiện nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại có điều kiện để san lấp dần khoảng cách của bất công, bóc lột một cách tinh vi hơn, xã hội dân chủ hơn. Điều kiện kinh tế cho phép  đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của đông đảo người dân làm cho mâu thuẫn xã hội đã bớt căng thẳng và quyết liệt hơn thời kỳ trước, đồng thời  tạo ra một bộ mặt văn minh, đẹp đẽ cho chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhiều nhà tư bản đến từ các nước tư bản phát triển đầu tư vào Việt Nam trả lương công nhân cao hơn những nhà đầu tư trong nước, có chế độ phúc lợi cho người lao động tốt hơn như: trợ cấp ốm đau, thai sản, chăm lo nơi ăn ở cho công nhân, chế độ thưởng, tham quan du lịch. Điều này khiến cho chủ nghĩa tư bản  trở nên đẹp đẽ làm cho nhiều người ngộ nhận, quên mất bản chất bóc lột của họ. Thực ra, số tiền họ bỏ ra để đãi ngộ công nhân cũng do chính công nhân làm ra, họ chăm lo cho công nhân cũng chỉ để công nhân mang lại cho họ  nhiều lợi nhuận hơn mà thôi.

          Trong cơ chế thị trường, trong nước đang xuất hiện một tầng lớp tư sản dân tộc. Họ là những “ông chủ” mới làm giàu lên bằng nhiều cách khác nhau. Một số người được học tập ở nước ngoài, áp dụng khoa học kỹ thuật và quản trị doanh nghiệp văn minh thì cũng tạo ra được hình ảnh đẹp đẽ như các nhà tư bản nước ngoài. Đáng chú ý là các “ông chủ” mới đi lên từ sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu thì có thể dễ dàng nhận ra các thủ đoạn bóc lột người lao động như thời tiền tư bản. Hiện tượng các doanh nghiệp tăng giờ làm, giảm lương, trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, quản lý doanh nghiệp bằng biện pháp hành chính, quân phiệt. Không ít doanh nghiệp vì lợi nhuận mà sẵn sàng xả chất thải làm ô nhiễm  môi trường, trốn thuế, làm hàng nhái, hàng giả, làm ăn chụp giật, tăng giá khi hàng khan hiếm, hạ giá nguyên liệu khi hàng hóa dư thừa, bắt chẹt nông dân. Không ít  chủ doanh nghiệp giầu lên bằng đồng tiền bất minh dẫn đến lối sống sa đọa, tham gia các tệ nạn xã hội, “trưởng giả học làm sang”, dùng đồng tiền để mua quan bán tước, mua bằng cấp, danh hiệu… 

         Đáng lo ngại là ở nước ta đã bắt đầu xuất hiện chế độ tư bản thân hữu, ở đó những kẻ có tiền cấu kết với cán bộ có chức quyền, lập “sân sau” hoặc ban hành chính sách có lợi cho một nhóm lợi ích nào đó. Những hiện tượng này đang làm biến chất cán bộ, công chức, thao túng cơ quan công quyền, làm cho chính quyền của nhân dân, do dân, vì dân dần dần bị biến chất chỉ phục vụ cho tầng lớp giàu có trong xã hội. Thực tế đó dẫn đến tình trạng, mặc dù đời sống được nâng lên, đất nước chuyển mình mạnh mẽ, nhiều lĩnh vực đã theo kịp các nước phát triển nhưng lòng dân không yên, những cán bộ lão thành, cựu chiến binh, những người đã cống hiến cả đời mình cho cách mạng cảm thấy bất bình, băn khoăn, lo lắng. Người dân lại tiếp tục mơ đến một chế độ xã hội tốt đẹp hơn,  nơi không có chỗ cho đồng tiền làm mưa làm gió, lộng hành, chà đạp lên những giá trị thiêng liêng, cao quý.

Hơn lúc nào hết, càng đi sâu vào cơ chế thị trường, chúng ta càng thấy rõ hơn những khuyết tật của nó và như vậy chúng ta vẫn kiên quyết khước từ lựa chọn con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Có thể nói đến lúc này, trên trái đất không có một nơi nào tốt đẹp hơn chủ nghĩa  xã hội - lý tưởng mà chúng ta đang theo đuổi. Chế độ đó có thể gọi được bằng một cái tên nào khác nhưng nó chứa đựng những giá trị tốt đẹp mà C.Mác, Ph.Ăng ghen  đã phát hiện ra. Một chế độ xã hội mà toàn bộ của cải phải là của tất cả mọi người, ai cũng có quyền khai thác, sử dụng và hưởng thụ theo khả năng đóng góp của mình. Một nền chính trị được quản trị tốt để sử dụng hợp lý mọi tài nguyên thiên nhiên đáp ứng đủ mọi nhu cầu hợp lý của con người ở tất cả mọi vùng miền của đất nước. Một nền kinh tế không có khủng hoảng thừa hoặc thiếu, một xã hội không có phân hóa giàu nghèo quá lớn.

Trên thế giới đã và đang có nhiều nước tìm cách khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường nói riêng và chủ nghĩa tư bản nói chung. Cách làm ở mỗi nước, ở mỗi một giai đoạn lại khác nhau nhưng đến thời điểm này chưa có một mô hình thực tiễn nào có thể khắc phục được những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản nếu không thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Phát triển chủ nghĩa tư bản hiện đại như một số nước Bắc Âu cũng là một sự lựa chọn tốt trong điều kiện mà những tiền đề cho chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới chưa chín muồi. Chúng ta tôn trọng sự lựa chọn của các quốc gia nhưng có một điểm chung nhất đó là người lao động trên thế giới đều mong muốn tìm đến một chế độ xã hội tốt đẹp như chế độ cộng sản chủ nghĩa theo đúng lý tưởng mà C.Mác, Ph.Ăngghen, VI.Lênin đã xây dựng. Ai đó có thể phản bác mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực về một khía cạnh nào đó, có thể phản bác phương thức tiến hành xây dựng, kiến tạo xã hội mới nhưng có thể khẳng định rằng không ai có thể phản bác được chủ nghĩa xã hội với tư cách là lý tưởng cao đẹp của loài người. 

                                            Tài liệu tham khảo

1. Hội đồng Lý luận Trung ương (2015): Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2013): Những tranh luận mới của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Quân ủy Trung ương (2012): Kỷ yếu tọa đàm: Chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.

4. Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên), (2016): Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Hồ Bá Thâm(2011): Bàn về mâu thuẫn xung đột lợi ích hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Nguyễn Thành Long - Ban Tuyên giáo Thành ủy

Tin khác

Quyền Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Mạnh Dũng làm việc với BTV Thành ủy Hà Giang (18/06/2024 14:43)

Đoàn kiểm tra Văn hoá công vụ của tỉnh làm việc tại thành phố Hà Giang (15/06/2024 09:41)

Hội nghị đôn đốc thực hiện Quy định 99 và thực hiện các cuộc thi của Trung ương, tỉnh phát động (14/06/2024 15:53)

Thành phố Hà Giang Khai mạc lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng đợt III (12/06/2024 09:39)

Thành phố Hà Giang Tập huấn, cung cấp thông tin cho người có uy tín năm 2024 (12/06/2024 09:20)

Thường trực Thành uỷ Hà Giang làm việc với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố (12/06/2024 02:40)

Chủ tịch UBND thành phố Hà Giang kịp thời chỉ đạo công tác khắc phục ngập úng (10/06/2024 11:40)

Hội nghị đối thoại giữa Chủ tịch UBND thành phố với nhân dân xã Ngọc Đường (09/06/2024 23:17)

Đảng bộ phường Nguyễn Trãi quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng (08/06/2024 07:53)

Bí thư Thành ủy Chúng Thị Chiên chủ trì buổi tiếp công dân (05/06/2024 18:23)

xem tiếp